Tag Archives: liệt dương

Món ăn thuốc từ thịt dê trị xuất tinh sớm

(SKDS) – Theo y học cổ truyền, thịt dê vị ngọt, nóng, chủ trị chứng tâm hư, làm êm dịu thần kinh, cầm mồ hôi, bổ dương khí gân cốt, mạnh dương sự. Ăn nhiều thịt dê da dẻ hồng hào khỏe mạnh. Ngoài ra, các bộ phận khác của dê như tủy dê, ngọc dương, sữa dê… đều bổ dưỡng và có nhiều tác dụng trị bệnh. Xin giới thiệu 1 số món ăn – bài thuốc từ thịt dê trị liệt dương, xuất tinh sớm.

Cháo thịt dê tốt cho người xuất tinh sớm, liệt dương, tiêu hóa kém, lưng gối đau mỏi.
Cháo thịt dê gạo lức:
Thịt dê tươi 200g, gạo lức 100g, hành, gừng, muối vừa đủ. Thịt dê rửa sạch thái miếng nhỏ cho cùng gạo đã đãi sạch và gia vị vào nồi, đổ 1 lít nước, đun to lửa cho sôi, sau đun nhỏ lửa nấu đến khi thịt nhừ, cháo đặc là được. Ngày 1 bát chia ăn vài lần. Tác dụng bổ hư, ích khí ôn trung mạnh tỳ vị. Dùng cho người xuất tinh sớm, liệt dương, khí huyết hư tổn, cơ thể gầy yếu, ăn vào hay nôn ọe, tiêu hóa kém, lưng đau gối mỏi, sản hậu hư hàn đau bụng. Ăn vào mùa đông thì tốt hơn. Người có đờm hỏa thực tà, thấp nhiệt không nên dùng.
Cháo thịt dê, nhục thung dung: Thịt dê 100g, nhục thung dung 15g, gạo lức 50g. Dùng 1 lít nước nấu nhục thung dung cho nhừ rồi bỏ bã. Thịt dê cắt miếng cho vào nồi, đổ 200ml nước nấu thịt nhừ, cho tiếp thêm 300ml nước và gạo đã đãi sạch vào nấu đến khi hạt gạo nở, cháo đặc thì cho nước nhục thung dung vào, đun sôi cho muối, bột ngọt, rồi tắt lửa, đậy kín vung trong 5 phút là được. Ăn vào sáng và tối trong ngày. Người đại tiện lỏng không nên dùng. Tác dụng: bổ thận tráng dương, nhuận trường thông tiện. Dùng cho người liệt dương, di tinh, xuất tinh sớm.

Canh thịt dê nhục thung dung bổ khí huyết, ích tinh, dưỡng nhan, chống lão suy.
Canh thịt dê tôm nõn:
Thịt dê 250g, tôm nõn 25g, gừng, hành, tiêu bột, muối vừa đủ. Thịt dê rửa sạch, luộc chín, thái mỏng cho vào nồi đất cùng tôm, gừng, hành, tiêu bột, muối, nước vừa đủ, đun to lửa tới sôi rồi chuyển đun nhỏ lửa nấu chín nhừ. Ăn kèm trong bữa cơm. Tác dụng: ôn thận bổ dương, bổ hư, mạnh cơ thể, trị các chứng do thận dương hư suy dẫn đến ra như liệt dương xuất tinh sớm, váng đầu hoa mắt, thần kinh mệt mỏi, lưng gối đau mỏi.
Canh thịt dê đương quy: Thịt dê 500g, đương quy 75g, gừng tươi 10g, đại hồi hương, quế bì, muối vừa đủ. Đương quy, gừng cho vào túi vải. Thịt dê rửa sạch, lọc bỏ màng thái nhỏ cho vào nồi cùng hồi hương, quế bì, nước vừa đủ đun nhỏ lửa tới chín nhừ, bỏ túi thuốc ra là được. Ăn thịt uống canh, chia 2 bữa. Tác dụng: tán hàn, bổ huyết, ôn tỳ, kiện vị, điều kinh, tán phong, chống lão hóa, kéo dài tuổi thọ.

Trị phụ nữ huyết hư, sản hậu bụng đau, kinh nguyệt không đều, đầu đau khi có kinh, vú đau tức, kinh huyết giảm, tử cung phát triển kém, sẩy thai liên tiếp, sắc mặt trắng bệch, kinh bế, lưng gối lạnh đau; đàn ông liệt dương di tinh.    
Lương yMinh Minh
Theo SKĐS

Công dụng của Dâm dương hoắc theo y học cổ truyền

Dâm dương hoắc phân bố chủ yếu ở miền rừng núi và có rất nhiều ở Trung Quốc, đây là cây thích hợp mọc ở vùng có khí hậu ôn đới. Ở Việt Nam, cây này xuất hiện tại các vùng núi cao biên giới giáp ranh với Trung Quốc, đặc biệt là ở Sapa.

Thành phần hóa học chủ yếu gồm: icariin; Benzen; Linoleic acid; Tannin; Oleic acid; Vitamin E; Acid palmitic; Flavonoids; Sterols.

Từ  lâu người dân Trung Quốc đã sử dụng Dâm dương hoắc để làm giảm căng thẳng và mệt mỏi cho đàn ông, họ hay dùng 100-200g nước sắc (10 lần liều lâm sàng hiện đại thông hay) của Dâm dương hoắc với rượu vang đỏ và mực để giúp cơ thể đỡ mệt mỏi và thiếu sức. Ngoài ra, dịch chiết Dâm dương hoắc còn có tác dụng kích dục mạnh.

Dâm dương hoắc có vị cay ngọt, tính bình (Dược tính luận) đi vào kinh can, thận (Trấn an Bản thảo, Trung dược học).

cay dam duong hoac Công dụng của Dâm dương hoắc theo y học cổ truyền

Dịch chiết Dâm dương hoắc có tác dụng kích dục mạnh

Công dụng của Dâm dương hoắc theo YHCT

Theo YHC, Dâm dương hoắc có tác dụng bổ thận tráng dương, khu phong trừ thấp. Chủ trị các chứng liệt dương, vô sinh, phong hàn thấp tý, bán thân bất toại.

-   Sách Bản kinh: “chủ âm nuy tuyệt thương, cân trung thống, lợi tiểu tiện, ích khí lực, cường chí “.

-   Sách Nhật hoa tử bản thảo: “trị phong lãnh lão khí, bổ yêu tất cường tâm lực, trượng phu tuyệt dương bất khởi, nữ nhân tuyệt âm vô tử, gân cốt rung giật, chân tay tê dại.”

Một số bài thuốc có dâm dương hoắc:

- Ấm thận tráng dương: Trong trường hợp thận dương suy kém, lưng đau, liệt dương, đái dắt, không nhịn được, dùng rượu thuốc Dâm dương hoắc gồm Dâm dương hoắc 1.000g, rượu trắng 10 lít. Ngâm trong 1 tháng. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 20ml. Trị liệt dương, bán thân bất toại. Hoặc dùng thịt dê hầm Dâm dương hoắc: Dâm dương hoắc 25g, thịt dê 200g. Cho chút rượu khuấy trộn đều, thêm muối hầm chín nhừ, thêm gừng, hành, gia vị ăn. Dùng cho các trường hợp đàn ông thiểu năng sinh dục, tinh trùng ít, hoạt lực kém, liệt dương di tinh; người cao tuổi có thể suy nhược đau lưng mỏi gối, yếu tay chân.

- Trừ thấp giảm đau: Đau các khớp xương do phong thấp hoặc hàn thấp, chân tay co quắp tê cứng: Dâm dương hoắc 20g, uy linh tiên 12g, thương nhĩ tử 8g, quế chi 8g, xuyên khung 8g. Sắc uống. Ngoài ra có thể dùng rượu Dâm dương hoắc huyết đằng: Dâm dương hoắc 30g, ba kích 30g, kê huyết đằng 30g, rượu 1.000ml, đường phèn 60g, ngâm sau 7 ngày thì dùng. Dùng cho các trường hợp phong thấp đau nhức xương khớp, đau lưng, đau mỏi toàn thân.

- Chữa viêm phế quản, hen suyễn: Dâm dương hoắc tán mịn 6g. Uống với nước sắc Dâm dương hoắc 20g. Dùng cho các trường hợp viêm khí phế quản mạn tính, hen suyễn dài ngày.

- Phụ nữ tiền mãn kinh, lo âu: Dâm dương hoắc 15g, bách hợp 15g, tiểu mạch 30g, đại táo 20g, cam thảo 6g. Sắc uống trong ngày. Dùng cho phụ nữ thời kỳ mãn kinh, đau lưng, mỏi mệt, hốt hoảng, lo âu.

Kiêng kỵ: Người âm hư hoả vương, chứng liệt dương do thấp nhiệt thì không được dùng.

Công dụng của Dâm dương hoắc theo y học hiện đại

Bằng các kỹ thuật phân tích hiện đại, trên mô hình thực nghiệm và lâm sàng, nhiều nhiều nghiên cứu y học hiện đại đã chứng minh Dâm dương hoắc có những công dụng sau:

- Thuốc có tác dụng như kích tố nam, cho uống cao Dâm dương hoắc có kích thích xuất tinh (tác dụng của lá và rễ mạnh, còn quả yếu hơn, thân cây kém).

- Có tác dụng hạ áp, tăng lưu lượng máu của động mạch vành, dãn mạch ngoại vi, tăng lưu lượng máu đầu chi, cải thiện vi tuần hoàn, làm dãn mạch máu não, tăng lưu lượng máu ở não.

- Có tác dụng hạ lipid huyết và đường huyết.

- Tác dụng kháng virus: nước sắc của thuốc có tác dụng ức chế mạnh virus bại liệt các loại I, II, III và sabin I ( theo bài: Tác dụng của Trung dược đối với virus đường ruột và virus bại liệt đăng trên Tạp chí Trung hoa y học, 50(8):521-524, 1964).

- Dùng lượng ít thuốc có tác dụng lợi tiểu, lượng nhiều chống lợi tiểu.

- Thuốc có tác dụng tăng cường chức năng miễn dịch của cơ thể và tác dụng song phương điều tiết.

- Có tác dụng giảm ho hóa đờm, bình suyễn và an thần rõ rệt.

- Có tác dụng kháng khuẩn chống viêm: tác dụng ức chế đối với tụ cầu khuẩn trắng, tụ cầu vàng, phế cầu khuẩn, dung dịch 1%, có tác dụng ức chế trực khuẩn lao. Cho thỏ uống thuốc với nồng độ 15mg/kg trọng lượng, nhận thấy thuốc có tác dụng kháng histamin.

- Dịch tiêm Dâm dương hoắc in vitro có tác dụng làm tăng trưởng xương đùi của phôi gà.

Tóm tắt công dụng hay dùng của cây Dâm dương hoắc:

Tiếp thêm sinh lực thận và tăng cường dương đồng thời thúc đẩy khí . Phù hợp sử dụng cho những người dương suy, thận yếu, biểu hiện như bất lực, xơ gan, khí thải , đái dầm , bịnh đi đái rắt hay xuyên, đau nhức của thắt lưng và đầu gối, vô sinh.

Mạnh gân và xương, và trục hàn : hội chứng đau khớp, tê chân tay , co thắt cơ bắp và tê tứ chi, tê liệt trẻ con, và đau khớp.

Loại bỏ đờm và giảm ho và hen suyễn mãn tính đặc biệt là các triệu chứng ho và bệnh suyễn (bao gồm cả bệnh hen suyễn lão khoa).

(Cây thuốc quý)

Cải thìa thanh nhiệt, lợi tiểu và phòng bệnh ngoài da

Cải thìa, còn gọi cải bẹ trắng, cải trắng, đại bạch thái, hoàng nha thái, hoàng ải thái, kết cầu bạch thái, tên khoa học Brassica chinensis L., thuộc họ Cải – Brassicaceae. Có nguồn gốc từ Trung Quốc, ngày nay cải thìa được trồng quanh năm từ đồng bằng đến núi cao, trừ những tháng quá nóng.

Đông y cho rằng, cải thìa vị cay, ấm; có tác dụng thông khí trừ đờm, làm ấm tỳ vị và kích thích tiêu hóa. Cải thìa là thức ăn dưỡng sinh, ăn vào có thể lợi trường vị, thanh nhiệt, lợi tiểu tiện và ngừa bệnh ngoài da.

Cải thìa có tác dụng chống scorbut, tạng khớp và làm tan sưng. Hạt cải thìa kích thích, làm dễ tiêu, nhuận tràng. Có tài liệu nói ích vị, lợi ruột, thông ruột bí, giải rượu, tiêu thức ăn, thanh nhiệt, ngưng ho. Chủ yếu dùng cho cảm mạo, ho, bí đại tiện, đau dạ dày mạn tính.

rau cai Cải thìa thanh nhiệt, lợi tiểu và phòng bệnh ngoài da

Cải thìa vị cay, ấm; có tác dụng thông khí trừ đờm, làm ấm tỳ vị và kích thích tiêu hóa

Để tham khảo, dưới đây gợi ý cách trị bệnh từ cây cải thìa:

* Làm thuốc thanh nhiệt: Người mắc bệnh nội nhiệt nặng thiếu tân dịch, môi khô ráo hay lưỡi sinh cam, chân răng sưng thũng, kẽ răng chảy máu, họng khô cứng; hay gọi là bệnh tân dịch không đủ, nội hoả bốc lên; mà lý do là do thiếu vitamin C. Có thể dùng cải thìa làm nguồn cung cấp vitamin C sẽ giúp chữa trị bệnh này. Nấu canh rau cải thìa ăn sẽ có tác dụng thanh hoả rất tốt.

* Nước ép cải thìa có lợi cho trẻ em trị nội nhiệt: Trẻ em bú sữa bò hay có bệnh nội nhiệt, cũng là thiếu vitamin C. Như khoé mắt có nhử dính, ghèn mắt dính chặt, mi mắt hoặc môi khô hồng, luôn luôn chúm môi lại, thở, ngủ không được, khóc cả đêm. Chỉ cần lấy cải thìa dầm nát, cho nước sôi để nguội vào lọc lấy nước, sau nấu sôi lên đợi âm ấm, cho uống hoặc đổ vào bình sữa cho trẻ em mút. Sau 1 tuần, hiện tượng nội nhiệt mất dần.

* Chữa nhiệt miệng: Rễ cải thìa gọt bỏ vỏ già ở ngoài, thái lát, sao nhỏ lửa vàng cháy, tán thành bột mịn, cho vào lọ nút kín dùng dần. Mỗi ngày lấy bột thuốc bôi vào chỗ mắc bệnh 2 – 3 lần. Dùng liền  3 – 5 ngày.

* Chữa cảm mạo: Rễ cải thìa 50g rửa sạch, gọt bỏ vỏ ngoài, thái lát, đường đỏ 30g. Đổ 400ml nước sắc còn 150ml, chia 2 lần uống trong ngày. Uống lúc còn nóng.

* Chữa cảm gió: Chọn 1 trong 2 thang sau:

- Lấy ba cây cải thìa rửa sạch gọt lớp vỏ già, cắt thành miếng, 7 cây hành tây, rửa sạch. Cùng đun thành canh, cho lượng đường vừa đủ, để nóng mà uống sau đắp chăn cho toát mồ hôi.

- Bọc cải thìa 250g, củ cải trắng 60g. Nấu nước cho thêm đường đỏ vừa đủ. Ăn rau uống nước. Mỗi ngày hai, ba lần, dùng liên tục.

* Trị ho lâu: Hai cây cải thìa, rửa sạch, thêm 30g đường phèn, đun nước uống. Ngày 2 – 3 lần.

* Chữa ho gà giai đoạn hồi phục: Rễ cải thìa 50g, đường phèn 30g. Đổ 500ml nước, sắc còn 200ml, chia 2 lần uống trong ngày. Dùng liền 5 ngày (Tố thực phổ hòa trung thảo dược phương).

* Chữa đầy bụng, khó tiêu: Cải thìa (cả cây), rửa sạch giã vắt lấy nước, hâm cho âm ấm, ngày uống 2 lần trước bữa ăn, mỗi lần 30ml. Dùng liền 3 – 5 ngày.

rau cai Cải thìa thanh nhiệt, lợi tiểu và phòng bệnh ngoài da

Rau cải, món ăn quen thuộc và chữa được nhiều bệnh

* Trị bệnh hoại huyết: Dùng cải thìa tươi hoặc khô nấu ăn như rau tươi để đảm bảo dinh dưỡng bình hay và phòng chống bệnh hoại huyết, nhất và đối với người đi các tàu viễn dương xa đất liền nhiều ngày. Người ta biết được điều này từ cách đây 700 năm.

* Xuất huyết do viêm loét đường tiêu hóa: Dùng cả cây cải thìa giã vắt lấy nước, hâm cho âm ấm, ngày uống 2 lần trước bữa ăn, mỗi lần 1 chén (khoảng 30ml) (Tố thực phổ hòa trung thảo dược phương).

* Bệnh tiểu đường: Cải thìa rửa sạch cắt đoạn, bã đậu phụ lượng bằng rau, bột gạo nếp vừa đủ. Trộn đều, đồ lên ăn.

* Thận hư, liệt dương: Cải thìa tươi 250g, tôm nõn 10g, xào mà ăn.

* Giải độc rượu, lợi tiểu: Lõi cải bẹ tươi cắt đoạn, thêm dấm, muối ăn, dầu mè, tỏi đánh đều. Ăn sống, có thể đun với nước thành canh để ăn.

* Bị sơn ăn: Cải bẹ tươi giã nát đắp lên chỗ đau.

* Mụn nhọt lạnh: Rau cải bẹ, rửa sạch đun thành canh đặc mỗi buổi tối rửa chỗ đau.

(Nông nghiệp)

Công dụng và bài thuốc từ dâm dương hoắc

Dâm dương hoắc còn gọi là dương hoắc, tiên linh tỳ… Tên khoa học: Epimedium sp, họ Hoàng liên gai (Berberidaceae). Dâm dương hoắc là cành và lá đã phơi hay sấy khô của hai loài dâm dương hoắc: dâm dương hoắc lá to và dâm dương hoắc lá mác. Hai loài này có ở vùng núi cao ở Sa Pa, Lào Cai, Lai Châu, Hà Giang.

Thành phần trong dâm dương hoắc có flavonoid, phytosterol, tinh dầu, acid palmitic, dầu béo, vitamin E, alcaloid. Dịch chiết từ dâm dương hoắc có tác dụng tương tự  oestrogen, có tác dụng hưng phấn, làm tăng bài tiết tinh dịch; hạ huyết áp, hạ đường huyết, ức chế 1 số vi khuẩn liên cầu, phế cầu, tụ cầu. Theo y học cổ truyền, dâm dương hoắc vị cay, ngọt, tính ấm; vào can thận.

cay dam duong hoac Công dụng và bài thuốc từ dâm dương hoắc

Dịch chiết từ dâm dương hoắc có tác dụng hưng phấn, làm tăng bài tiết tinh dịch

Có tác dụng bổ thận tráng dương, cường kiện cân cốt, khu phong trừ thấp. Dùng cho các trường hợp thận dương hư, sợ lạnh tay chân lạnh, đau lưng, mỏi gối, tê bại tay chân, liệt dương di tinh, phụ nữ cao huyết áp ở thời kỳ mãn kinh, người cao tuổi xuyễn khái. Liều dùng: 8 – 20g có thể dùng:

Một số bài thuốc có dâm dương hoắc:

-  Ấm thận tráng dương: Trong trường hợp thận dương suy kém, lưng đau, liệt dương, đái dắt,  không nhịn được:

-  Rượu thuốc dâm dương hoắc: Dâm dương hoắc 1.000g, rượu trắng 10 lít. Ngâm trong 1 tháng. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 20ml. Trị liệt dương, bán thân bất toại.

- Thịt dê hầm dâm dương hoắc: Dâm dương hoắc 25g, thịt dê 200g. Cho chút rượu khuấy trộn đều, thêm muối hầm chín nhừ, thêm gừng, hành, gia vị ăn. Dùng cho các trường hợp đàn ông thiểu năng sinh dục, tinh trùng ít, hoạt lực kém, liệt dương di tinh; người cao tuổi có thể suy nhược đau lưng mỏi gối, yếu tay chân.

- Trừ thấp giảm đau: Đau các khớp xương do phong thấp hoặc hàn thấp, chân tay co quắp tê cứng: Dâm dương hoắc 20g, uy linh tiên 12g, thương nhĩ tử 8g, quế chi 8g, xuyên khung 8g. Sắc uống. Ngoài ra có thể dùng rượu dâm dương hoắc huyết đằng: Dâm dương hoắc 30g, ba kích 30g, kê huyết đằng 30g, rượu 1.000ml, đường phèn 60g, ngâm sau 7 ngày thì dùng. Dùng cho các trường hợp phong thấp đau nhức xương khớp, đau lưng, đau mỏi toàn thân.

cay dam duong hoac Công dụng và bài thuốc từ dâm dương hoắc

Dâm dương hoắc trị đau các khớp xương do phong thấp hoặc hàn thấp

- Chữa viêm phế quản, hen suyễn: Dâm dương hoắc tán mịn 6g. Uống với nước sắc dâm dương hoắc 20g. Dùng cho các trường hợp viêm khí phế quản mạn tính, hen suyễn dài ngày.

- Phụ nữ tiền mãn kinh, lo âu: Dâm dương hoắc 15g, bách hợp 15g, tiểu mạch 30g, đại táo 20g, cam thảo 6g. Sắc uống trong ngày. Dùng cho phụ nữ thời kỳ mãn kinh, đau lưng, mỏi mệt, hốt hoảng, lo âu.

Kiêng kỵ : Người âm hư hoả vương, chứng liệt dương do thấp nhiệt thì không được dùng.

(Sức khỏe đời sống)

Hải sâm chữa bệnh khó nói của đàn ông

Theo y học cổ truyền, hải sâm tính ôn, vị mặn, có tác dụng bổ thận ích tinh, dưỡng huyết nhuận táo, cầm máu tiêu viêm, trấn tĩnh tim, ức chế toan, cầm đau, bổ não ích trí, dùng để trị thân thể suy nhược, bệnh phổi ho ra máu, thiếu máu, tăng huyết áp, tiểu đường, viêm loét dạ dày tá tràng, táo bón, kiết lỵ, chóng mặt, đái dắt, đau lưng, hoạt tinh.

Hải sâm chứa nhiều dưỡng chất, có tác dụng bổ thận, ích tinh.

Trong 100g hải sâm có 14,9g đạm; 0,9g béo; 0,4g hydratcacbon; 357mg canxi; 12mg photpho; 2,4mg sắt, ngoài ra còn có vitamin B1, B2, axit nicotinic. Hải sâm được dùng trị các bệnh sau:

hai sam Hải sâm chữa bệnh khó nói của đàn ông

Hải sâm om nấm

Trị liệt dương: hải sâm 20g, thịt dê 100g, hành, gừng, muối đủ dùng.

Ngâm hải sâm làm sạch, thái mỏng, thịt dê thái miếng, cho vào nồi nấu với hải sâm làm canh, nêm gừng, hành, mắm, muối để ăn.

Trị di tinh: hải sâm 50g, cật dê 1 đôi, kỷ tử 10g, đương quy 12g. Cho nguyên liệu trên vào nồi nấu chung cùng với 1 ít nước cho nhừ để ăn, mỗi ngày ăn 2 lần, ăn liền 7 ngày.

Trị thần kinh suy nhược: hải sâm 30g, gạo tẻ 100g. Hải sâm ngâm rửa sạch, thái lát, cho vào nồi nấu cháo với gạo tẻ để ăn.

Trị tăng huyết áp: hải sâm 50g, đường phèn 30g. Hải sâm ngâm nước, rửa sạch, cho vào nồi cùng với đường phèn, nước nấu nhừ, ăn mỗi ngày 1 lần vào buổi sáng.

Trị xơ cứng động mạch: hải sâm 25g, ngân nhĩ 15g, đường phèn 30g.

Cho hải sâm và ngân nhĩ vào nồi nước nấu nhừ, rồi cho đường phèn vào đun tan đường để ăn.

(Viet-times.com.au)

Mật gà chữa ho khan, ho lâu ngày

Mật gà, tên thuốc là kê đảm, có vị đắng, tính hàn, không độc, có tác dụng giảm ho, long đờm, tiêu độc, chống viêm. Tuy được dùng ít hơn các loại mật khác, nhưng mật gà lại có tác dụng tốt trong những trường hợp sau:

Mật gà, tên thuốc là kê đảm, có vị đắng, tính hàn, không độc, có tác dụng giảm ho, long đờm, tiêu độc, chống viêm, được dùng trong những trường hợp sau:

Ho lâu ngày: mật gà đen 1 cái, hạt chanh, hạt quất, lá thạch xương bồ, mỗi thứ 10g. Tất cả để tươi, giã nát, thêm đường, hấp cơm cho chín, uống làm 2-3 lần/ngày.

ga song Mật gà chữa ho khan, ho lâu ngày

Mật gà ít được dùng so với các loại mật khác nhưng cũng có nhiều tác dụng

Ho gà, ho khan, ho có đờm kèm sốt: mật gà 10 cái, hạt chanh, hạt mướp đắng, mỗi thứ 20g, đường cát 25g. Hạt chanh và mướp đắng đem sao khô, tán nhỏ, rây bột mịn, trộn đều với nước mật gà, phơi khô, tán lại cho thật mịn. Đường đun cho chảy, luyện với bột trên thành viên bằng hạt đỗ xanh, sấy khô. Trẻ em từ 1-5 tuổi, mỗi lần uống 2-4g; trẻ 6-10 tuổi uống 5-8g. Ngày uống 2 lần với nước ấm.
Hen sữa ở trẻ nhỏ: mật gà 10 cái, nghệ vàng 1 củ già, to bằng quả trứng gà, phèn chua 1 miếng bằng 3 hạt ngô. Đem nghệ gọt vỏ, thái mỏng, phơi khô, sao giòn, giã nhỏ, rây bột mịn; phèn chua rang khô, tán bột, rút nước mật gà, trộn đều với hai bột trên luyện với nước cháo làm viên bằng hạt ngô. Ngày uống 10 viên trước khi đi ngủ.
Chữa viêm túi mật: mỗi ngày nuốt 1 cái mật gà, dùng liền trong 10 ngày.

Đứng lâu đau buốt: mật gà trống phơi khô 20g, chất trắng trong phân gà sao vàng 40g. Hai thứ trộn đều, tán nhỏ, rây bột. Ngày uống 4g với rượu hâm nóng.

Liệt dương: mật gà trống 1 cái, mật cá chép 1 cái, trứng chim sẻ 1 quả. Rút nước mật trộn với trứng chim rồi uống 1 lần trong ngày.

(Kiến thức)

9 món ăn bài thuốc bổ thận tráng dương

Y học cổ truyền có nhiều bài thuốc bổ thận tráng dương, sinh tinh ích khí chữa chứng “trên bảo dưới không nghe” rất hiệu nghiệm với các vị thuốc như: hải cẩu, hãi mã, nhục thung dung, dâm dương hoắc, thỏ ty tử, đỗ trọng, lộc giác giao (nhung hươu), ba kích… Để đơn giản hóa, bạn có thể dùng các thực đơn thông minh để chữa rối loạn cương dưới đây:Bài 1

Thịt chó 500g, đậu đen 50g. Cho cả hai thứ vào nấu nhừ, ăn liên tục.

thit cho 9 món ăn bài thuốc bổ thận tráng dương

Thịt chó – món ăn quen thuộc của người Việt Nam

Bài 2

Chim sẻ 5 con. Làm sạch, luộc chín ăn nhạt.

Bài 3

Tinh hoàn gà 10 quả (hoặc tinh hoàn bò 1 đôi); rượu gạo nếp vừa phải. Cho vào nấu ăn, cấm ăn các thứ lạnh trong thời gian ăn, nên kiêng sinh hoạt vợ chồng.

Bài 4

Hạt mướp đắng 300g. Sao vàng tán nhỏ, cho vào lọ, mỗi ngày uống 10g bằng rượu vang. Mỗi ngày uống hai lần. Mười ngày là 1 đợt.

Bài 5

Thịt hươu 200g, nhục thung dung 30g. Thịt hươu rửa sạch, thái miếng, nhục thung dung ngâm nước xong thái lát, cả hai thứ cho vào nấu, cho gừng, hành, muối làm gia vị. Sau khi nấu chín, bỏ nhục thung dung đi, còn lại ăn hết.

Bài 6

Thịt dê 20g, tỏi 50g, tôm nõn 30g. Thịt dê rửa sạch, thái lát mỏng, nấu tôm nõn và tỏi, cho hành trước. Sau đó mới cho thịt dê vào, ăn hết thịt và tôm. Chữa liệt dương do thận hư.

Bài 7

Gan gà trống 2 bộ; dây tơ hồng 15g; cho vào sắc cùng lấy nước uống. Uống hay xuyên chữa liệt dương do thận hư.

Bài 8

Hành củ già 20g, rượu trắng 50g. Hành củ rửa sạch, băm nhỏ, cho vào xào cho thật nóng, cho rượu trắng vào, buộc vào bụng dưới lúc nóng.

Bài 9

Ớt tươi 100g, tôm nõn 50g. Rượu trắng (50o trở lên) 200ml. Tôm rửa sạch cho vào xào với ớt, sau đó đổ rượu vào nấu sôi, ăn 1 lần cho hết.

(viet-times.com.au)

Bài thuốc chữa liệt dương bằng rễ cau

Cây cau còn gọi là binh lang, tân lang, có tên khoa học: Arecaceae. Cau là cây nhiệt đới có thân trụ, thẳng đứng, cao 10 – 12m, có nhiều vòng sẹo đều đặn của vết lá rụng. Hoa đực ở trên, nhỏ, màu trắng, thơm; hoa cái to hơn ở dưới. Quả hạch hình trứng thuôn đầu, vỏ quả nhẵn bóng, còn non màu lục sau vàng, vỏ quả giữa nhiều xơ. Người ta trồng cau làm cảnh, lấy quả ăn trầu và các bộ phận khác làm thuốc.

Theo Y học cổ truyền: Hạt cau vị chát, tính ôn, có tác dụng diệt trùng, trừ giun sán, tiêu tích, hành thuỷ; vỏ quả cau vị hơi cay, tính ôn, có tác dụng thông tiểu tiện, hành thuỷ, hạ khí. Hoa, quả, thậm chí cả rễ của cây cau đều có nhiều tác dụng chữa bệnh rất tốt, từ ho, dạ dày, khó tiêu, chán ăn, hen suyễn đến cả …cường dương.

Hoa cau: Là nụ hoa đực của cây cau, có vị hơi ngọt, tính mát, có tác dụng bổ tim, gan, dạ dày, trị ho, thanh nhiệt, thông khí, tán ứ trệ khí ở dạ dày…

Hoa cau, hạt cau, rễ cau đều có tác dụng chữa bệnh

Một số bài thuốc chữa bệnh bằng cau

- Chữa liệt dương: Rễ cau nổi (20-30g) thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày (không nên dùng nhiều).

cau Bài thuốc chữa liệt dương bằng rễ cau
- Chữa phù thũng, bụng đầy trướng, khó thở, đái ít: Vỏ quả cau 12g, vỏ Quýt 12g, vỏ rễ dâu 12g, vỏ gừng 12g, nước 2 bát nước sắc còn gần bát (khoảng 8/10 bát), chia uống 2 lần; 5 ngày là 1 liệu trình.

- Chữa chứng cước khí, sinh đầy bụng hoặc người già bị chứng đầy bụng: Hạt cau tán mịn, nấu nước vỏ quả cau uống với bột hạt cau tán mịn, mỗi lần 8g.

- Chữa chốc đầu: Hạt cau già, đốt cháy, tán mịn, rắc lên đầu.

- Chữa viêm ruột kiết lỵ: Hạt cau khô 1 – 2 hạt đập dập, vỏ dộp cây ổi 6g, sắc nước uống.

- Chữa giun đũa và sán làm đau bụng, miệng ứa nước trong: Hạt cau khô thái nhỏ 80g cùng 2 bát rượu, sắc lấy 1 bát, chia uống dần trong 1 giờ cho hết. Hoặc sáng sớm ăn 80g hạt bí ngô đã rang chín, sắc 80g hạt cau với nước, lấy 600ml. Uống nước sắc hạt cau sau khi ăn hạt bí 2 giờ, sau đó uống thuốc tẩy để sổ giun sán ra.

-Chữa sốt rét: Hạt cau 2g, hay sơn 6g, thảo quả 1g, cát căn 4g, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày.

- Chữa no hơi chướng bụng, khó chịu trong lồng ngực: Cau 12g, Chỉ xác 9g, tô cách 9g, mộc hương 3g sắc uống.

-Chữa khó tiêu, đầy trướng bụng: Hạt cau 10g, sơn tra 10g. Sắc nước uống.

qua cau Bài thuốc chữa liệt dương bằng rễ cau

Hạt cau cũng có nhiều công dụng chữa bệnh

-Chữa ho, đau tức ngực, tê đau các khớp, chướng khí ở bụng: Lấy 0,5 lạng hoa cau hầm với thịt lợn để ăn

- Chữa hen suyễn: Tua cau rũ, đốt tồn tính, tán mịn, mỗi lần dùng 4 – 8g trộn với nước cháo, ăn rất hiệu nghiệm.

- Chữa giun đũa, sán dây: Cau 30g, hạt bí ngô 30g sắc uống.

- Chữa phù thũng, bụng đầy trướng, khó thở, tiểu tiện ít, ốm nghén nôn mửa: Vỏ quả cau, vỏ rễ dâu, vỏ quýt, vỏ gừng mỗi thứ 12 g, sắc với 300 ml nước, lấy 200 ml, chia hai lần uống trong ngày.

(Nongnghiep.vn)

Bài thuốc hỗ trợ trị loãng xương

Bệnh loãng xương gặp ở cả hai giới, nữ nhiều hơn nam, chủ yếu ở thời kỳ tiền mãn kinh.

Theo y học cổ truyền, “thận chủ cốt”, tỳ vị là nguồn cung cấp tinh chất, khí huyết cho cơ thể. Do ăn uống thất hay, thiếu dinh dưỡng, chân tay và toàn thân ít vận động, do tuổi tác, tỳ vị bị tổn hại, tinh huyết thiếu hụt làm cho xương khô tủy kém mà sinh ra bệnh. Sau đây là 1 số bài thuốc trị theo từng thể.

Thể thận dương hư: Người bệnh có biểu hiện lưng đau gối mỏi, cơ thể yếu mệt, chân tay không có lực, lạnh lưng và lạnh chân tay, liệt dương, đầu choáng mắt hoa, tiểu đêm nhiều lần, phân lỏng… Phép trị: ôn bổ thận dương, cường kiện gân cốt. Dùng 1 trong các bài thuốc:

Bài 1: ngưu tất 16g, nam tục đoạn 16g, ngũ gia bì 16g, cẩu tích 12g, tang ký sinh 12g, tần giao 12g, đỗ trọng 10g, quế chi 6g, thiên niên kiện 10g, thục địa (sao khô) 12g, dâm dương hoắc 10g, đại táo 10g, cam thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần.

Bài 2: bạch truật (sao vàng hạ thổ) 12g, đỗ trọng 10g, cỏ xước 16g, cây lá lốt 12g, nam tục đoạn 16g, hy thiêm 16g, hoài sơn 16g, sơn thù 12g, ba kích 16g, khởi tử 12g, cao lương khương 10g, quế chi 6g, thiên niên kiện 10g, cam thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần.

cay la lot Bài thuốc hỗ trợ trị loãng xương

Lá lốt hay được dùng trong bài thuốc chữa xương khớp

Thể thận âm suy tổn: Người bệnh thấy mắt hoa, lưng gối đau mỏi, vận động chậm chạp, ù tai, mắt kém, triều nhiệt, tâm phiền, đại tiện táo kết, răng đau, tóc rụng, lợi sưng, tinh thần mệt mỏi. Phép trị: tư bổ thận âm, dưỡng tinh tủy. Dùng 1 trong các bài thuốc:

Bài 1: hoài sơn 10g, sơn thù 12g, đan bì 10g, trạch tả 12g, bạch linh 10g, thục địa 12g, quy bản (sao) 12g, đương quy 12g, đỗ trọng 10g, khởi tử 12g, đại táo 10g, hắc táo nhân 16g, viễn chí 10g, cam thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần.

Bài 2: hoài sơn 12g, sơn thù 12g, đương quy 12g, khởi tử 12g, tang thầm 12g, khiếm thực 12g, thục địa 12g, bạch linh 10g, đại táo 10g, hoàng bá 12g, mẫu lệ (chế) 16g, ngân hoa 10g, cỏ mực 16g, quy bản (sao) 12g, tang diệp 16g, cam thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần. Mỗi lần uống thuốc pha thêm vào 20ml mật ong.

Thể tỳ hư: Người bệnh gầy xanh, chân tay yếu mềm, ăn ngủ kém, hay bị lạnh bụng, phân lỏng, mình mẩy nặng nề, ngại vận động, chất lưỡi nhợt, mạch trầm tế. Bài thuốc: bạch truật 12g, sơn tra 10g, thần khúc 12g, bán hạ 10g, hậu phác 12g, cao lương khương 10g, sa nhân 10g, lá lốt 12g, phòng sâm 12g, bạch linh 10g, chích thảo 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần. Nếu người bệnh đau đầu mất ngủ, gia hắc táo nhân 12g, viễn chí 12g; hay sôi bụng, phân lỏng, gia: quế 8g, sinh khương 6g; đau nhức các khớp, gia: đỗ trọng 12g, tục đoạn 12g; ho hen mắc đờm, gia: cát cánh 12g, tía tô 16g, sinh khương 6g.

Thể huyết ứ: Người bệnh đau nhức các khớp, cơ thể mỏi mệt, da sạm, chất lưỡi tía, có thể có những điểm xuất huyết. Phép trị: hoạt huyết, hóa ứ, tán kết, giảm đau. Dùng bài thuốc: xuyên khung 12g, hoàng kỳ 16g, hồng hoa 10g, tô mộc 20g, ngải diệp 10g, huyết đằng 12g, tục đoạn 12g, phòng sâm 12g, bạch truật 12g, xa tiền 12g, uất kim 10g, hương phụ tử (chế) 12g, trần bì 10g, cam thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Theo Lương y Trịnh Văn Sỹ (Sức khỏe đời sống)

Thuốc hay từ thảo dược mang tên rắn

Con rắn không chỉ là biểu tượng văn hóa, là loại thức ăn ngon bổ mà còn là vị thuốc quý giúp tăng cường sinh lực, phòng trị hiệu quả nhiều bệnh. Trong Đông y, các loại  thảo dược mang tên rắn (xà), cũng là những vị thuốc có ích cho con người.1. Cây lưỡi rắn còn gọi là cây xương cá, vương thái tô

Cây lưỡi rắn có tác dụng thanh nhiệt giải độc, được dùng trong các trường hợp sau:

Bị rắn độc cắn: khi bị rắn cắn, cần garô lau sạch vết cắn, nặn hút máu nơi bị rắn cắn rồi lấy khoảng 100g lá tươi cây lưỡi rắn, rửa sạch giã nát, vắt lấy nước uống, bã dịt vào vết rắn cắn.

Trị sốt cao, mê sảng, sốt cách nhật hoặc đau nhức xương khớp, đau răng:  dùng 15 – 30g, sắc uống (trước khi dùng cần sao vàng). Nếu sốt rét có thể phối hợp với mã tiên thảo; rễ, lá cây hay sơn, đồng lượng 5-9g, sắc uống ngày 1 thang, trước bữa ăn 1-2 giờ hoặc trước khi lên cơn sốt. Uống liền nhiều thang.

Ngoài ra còn dùng lưỡi rắn để nấu nước rửa vết thương, mụn nhọt.

cay luoi ran Thuốc hay từ thảo dược mang tên rắn

Cây lưỡi rắn

2. Xống rắn họ trinh nữ

Dùng vỏ thân, vỏ rễ khô. Xống rắn vị ngọt, tính mát, có tác dụng thanh can nhiệt giáng tâm hỏa, lương huyết, giải độc. Dùng trị ho, đờm nhiệt hoặc viêm phế quản với liều 8-12g, sắc uống. Có thể dùng lá tươi, rửa sạch, giã nát, đắp vào vết thương để cầm máu hoặc dùng nấu nước để tắm, gội đầu.

3. Xác rắn

Vỏ cây đỗ trọng có vị ngọt, cay, tính ấm, tác dụng bổ can, thận, mạnh gân xương. Được dùng trị can thận hư, lưng gối đau mỏi, đau nhức xương, khớp, gân cốt yếu, đi lại khó khăn, vô lực, chóng mặt, liệt dương, di tinh, tảo tiết, hay phối hợp với các vị thuốc bổ dương khác, như cẩu tích, tục đoạn, cốt toái bổ hoặc các vị trừ phong thấp như tang ký sinh, độc hoạt, uy linh tiên, đồng lượng 8-12g, sắc uống ngày 1 thang, trước bữa ăn  khoảng 1 giờ. Uống 2 – 3 liệu trình, mỗi liệu trình 5-7 ngày. Hoặc ngâm rượu, kết hợp với trần bì, huyết giác, hà thủ ô đỏ, thiên niên kiện.

4. Bạch hoa xà thiệt thảo họ cà phê (Rubiaceae). Trước khi dùng cần sao qua, được dùng trong các trường hợp:

Trị viêm thận cấp, nước tiểu có albumin: bạch hoa xà thiệt thảo 15g, bạch mao căn 30g, chi tử 9g, tô diệp 6g, sắc uống ngày 1 thang.

Trị sỏi mật: bạch hoa xà thiệt thảo, kim tiền thảo, nhân trần, mỗi thứ 30g, xa tiền tử 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

Trị sốt cao, co giật ở trẻ em: bạch hoa xà tươi 30g, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt, uống mỗi lần 1 thìa canh, ngày 2-3 lần.

Trong sử dụng, cần tránh nhầm lẫn giữa cây bạch hoa xà thiệt thảo với cây lưỡi rắn.

Bạch hoa xà:  là rễ và lá của cây bạch hoa xà. Do có độc tính mạnh nên chủ yếu được dùng ngoài để chữa đinh nhọt, tràng nhạc, phong hủi, lở ngứa bằng cách lấy lá tươi hay rễ non giã nát, đắp vào chỗ mắc bệnh.

GS.TS. Phạm Xuân Sinh (Tạp chí y dược)